Có được bán tài sản đang thế chấp tại ngân hàng không?

tai-san-the-chap-tai-ngan-hang

Có được bán tài sản đang thế chấp tại ngân hàng không là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm. Trong mối quan hệ thế chấp, bên thế chấp quyền được thực hiện một số hoạt động tác động lên tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, tuy nhiên vẫn bị giới hạn trong một phạm vi nhất định. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp các thông tin cơ bản giúp bạn đọc nắm rõ các quy định về giao dịch mua bán tài sản đang thế chấp tại ngân hàng để tránh các rủi ro pháp lý về sau.

tai-san-the-chap-tai-ngan-hang

Có được bán tài sản đang thế chấp tại ngân hàng không

Quyền của bên thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), bên thế chấp sẽ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp. Tài sản dùng để bảo đảm trong thế chấp có thể là bất động sản hay động sản. Nếu nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ như cam kết, quyền sở hữu tài sản có thể được khôi phục hoàn toàn cho bên thế chấp, tuy nhiên nếu nghĩa vụ không được thực hiện, quyền sở hữu có thể chấm dứt hoàn toàn đối với bên thế chấp và thuộc quyền định đoạt của bên nhận thế chấp.

Trong trường hợp tài sản đang thế chấp tại ngân hàng, ngân hàng được xem là bên nhận thế chấp. Theo Điều 321 BLDS 2015, bên thế chấp tài sản có quyền bán tài sản thế chấp nếu thuộc một các trường hợp sau:

  • Tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
  • Tài sản không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh nhưng được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.

Có thể thấy, khi thế chấp tài sản, bên thế chấp vẫn hoàn toàn là chủ sở hữu đối với tài sản, tuy nhiên sẽ bị giới hạn đối với quyền định đoạt. Như vậy, theo quy định trên, pháp luật cho phép bán tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng, tuy nhiên giao dịch này phải được ngân hàng đồng ý. Quy định này bảo đảm tính cân bằng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên, trong đó bên thế chấp được thực hiện quyền sở hữu, định đoạt của mình về tài sản nhưng mặt khác bên thế chấp cũng bị ràng buộc trách nhiệm đối với ngân hàng.

Nghĩa vụ thông báo trước khi bán tài sản thế chấp

Là chủ thể một bên trong giao dịch thế chấp tài sản, bên nhận thế chấp có quyền được biết mọi hoạt động có tác động tới tài sản thế chấp. Bởi lẽ, tài sản thế chấp nhằm đảm bảo nghĩa vụ của bên thế chấp, nên khi một bên tác động đến tài sản thế chấp có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của bên còn lại.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 320 BLDS 2015, bên thế chấp có nghĩa vụ cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp biết.  Vì vậy, đối với tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng, tùy vào loại tài sản thế chấp mà nghĩa vụ thông báo sẽ được đặt ra như một thủ tục bắt buộc khi có ý định bán tài sản.

  • Đối với trường hợp tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh: Pháp luật không quy định việc bán phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, vì vậy thông báo không phải là nghĩa vụ bắt buộc đặt ra. Tuy nhiên, khi bán tài sản, số tiền bên thế chấp thu được từ tài sản thế chấp đã được bán sẽ được trả cho ngân hàng, hoặc hàng hóa có được từ số tiền thu được đó sẽ trở thành tài sản thế chấp (khoàn 4 Điều 321 BLDS 2015).
  • Đối với trường hợp tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh: Trong trường hợp bên thế chấp muốn bán tài sản phải có sự đồng ý của ngân hàng. Vì vậy nghĩa vụ thông báo cho ngân hàng biết trước khi bán tài sản thế chấp là bắt buộc (khoản 5 Điều 321 BLDS 2015).

nha-dang-thu-cap-ngan-hang

Nghĩa vụ thông báo cho ngân hàng biết trước khi bán tài sản thế chấp

Hệ quả pháp lý khi tự ý bán tài sản thế chấp tại ngân hàng

Có thể nói, việc thông báo và được sự đồng ý của ngân hàng khi có ý định bán tài sản thế chấp là thủ tục có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nếu bên thế chấp không thông báo hoặc thông báo nhưng chưa được sự cho phép của ngân hàng mà tự ý bán tài sản thế chấp sẽ phải đối mặt với các rủi ro pháp lý sau:

  • Hợp đồng bán tài sản đang được thế chấp cho bên thứ ba có thể bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo Điều 123, Điều 407 BLDS 2015. Cụ thể, BLDS 2015 không cho phép bên thế chấp bán tài sản thế chấp, trừ trường hợp được phép theo quy định pháp luật. Việc tự ý bán tài sản thế chấp vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật này. Khi hợp đồng vô hiệu, tất cả sẽ được khôi phục về tình trạng ban đầu, đồng thời bên thế chấp có thể sẽ phải bồi thường những thiệt hại phát sinh cho bên bị thiệt hại.
  • Bên thế chấp sẽ bị áp dụng các trách nhiệm do bên ngân hàng quy định theo hợp đồng thế chấp. Thông thường, những biện pháp được áp dụng sẽ gây thiệt hại cho bên thế chấp như bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm,… Ngoài ra, bên nhận thế chấp có thể khởi kiện bên thế chấp tại Tòa án có thẩm quyền.

he-qua-phap-ly

Hệ quả pháp lý khi tự ý bán tài sản thế chấp tại ngân hàng

Thông tin liên hệ luật sư

Luật sư Loyola – Tư Vấn Luật Online Miễn Phí

Địa chỉ: 600 Lê Quang Định, Phường 1, Quận Gò Vấp, TPHCM
Phone: 0939568950
Email: luatsuloyola@gmail.com
Website: https://ignatiusofloyola.net/

Leave a comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.